Thứ Tư, ngày 18 tháng 2 năm 2015

Ăn Tết Sài Gòn đầu tiên sau giải phóng



Hồi ức của nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn: Sau khi tôi vào Sài Gòn mấy hôm, nhà văn Lê Minh Khuê cũng vào và được hội văn nghệ cho ở cùng phòng với tôi. Hai chị em bắt đầu chuỗi ngày đầy kỷ niệm. Chiều ba mươi Tết,chúng tôi được các anh ở Hội văn nghệ thành phố cho lên ô tô đi một vòng quanh Sài gòn. Thành phố tấp nập, tưng bừng đón cái Tết đầu tiên sau giải phóng. Nhà nhà treo từng dây pháo dài hàng mét trước cửa, bày cỗ  trước nhà chuẩn bị đón giao thừa. Các chị mặc áo dài lửng, tức là tay ngắn và loe, vạt áo dài hẹp và ngắn, gần như ngang gối xúng xính dắt con dạo chơi ngoài phố , bọn trẻ thì tung tăng ôm búp bê, bánh kẹo, thú nhồi bông chạy tung tăng. Sài Gòn Tết năm 1976 cái gì cũng mini: xe đạp mini, váy mi ni, áo dài mini, tóc các cô gái cũng mini...thật là vui mắt.

Nơi bình yên chim hót



Câu chuyện của nhà văn Đỗ Bích Thúy: “Rồi một buổi sáng, mùa xuân ùa tới. Đấy là khi tôi đứng ở hè nhà mình, nhìn vắt qua vườn, thấy cây lê bên vườn nhà cái Lanh đã bật ra những chùm hoa trắng muốt. Cây lê ấy, một cành của nó vươn dài, rủ xuống đầu hồi, chỗ máng nước chảy về, cái Lanh hay ngồi đấy rửa bát. Tôi chạy vùn vụt sang nhà cái Lành, nhảy hai bậc một lên nhà, chạy xuyên qua nhà, phi ra đầu hồi bên kia. Tôi đứng ngẩn ra trước vẻ đẹp kì diệu của những bông hoa lê có năm cánh trắng, cái nhụy với những viên phấn tròn nhỏ xíu đậu rung rinh. Một cơn gió ùa tới, những bông lê chợt run lên. Và một dòng nước lấp lánh từ trong khe suối đột nhiên chảy vòng vèo chậm rãi trên mặt suối đã khô suốt mất thấy tháng mùa đông, trong cái nắng trong suốt xiên qua sương mờ, trong những cơn gió dịu dàng hất theo những hạt mưa xuân bé xíu, nhẹ bẫng”.

Thứ Hai, ngày 16 tháng 2 năm 2015

Ra khỏi Rừng là Phố



Thao thức của nhà văn Chu Lai: “Bỗng tự trong sâu thẳm buồn vui khẽ bật lên một triết lý: Thì ra chiến tranh là ngày nào cũng chôn nhau nhưng chưa đến lượt chôn mình, là đơn vị đặc công chỉ đóng cách Sài Gòn có 15 cây số mà phải hành quân 10 năm trời mới tới nơi, như vậy mỗi năm chỉ nhích lên được một cây số rưỡi, chỉ có điều mỗi cái rưỡi đó là để lại hàng trăm bạn bè, đồng đội ngã sâu vào lòng đất, là cái sự còn sống trở về của mình cứ khắc khoải như người có tội, vậy thực chất đây là cuộc hành binh trên những nấm mồ đãm máu và nước mắt để ca khúc khoải hoàn tức tưởi giữa Thành Đô. Chiến tranh mười người ra đi, hơn phân nửa không trở về thì sao có thể vô tình gọi là ngày hội?”

Đêm giao thừa có mưa phùn



Trong cái bếp một gian có đủ  chỗ để cho chiếc bàn gỗ với một người ngồi ăn, nhìn ra cái ao nhỏ có cây khế. Cây khế chua giờ đã thành khế ngọt vì mẹ chôn con mèo mướp chết già dưới đó. Một khóm ngải  cứu, một vạt rau mùi trổ hoa lấm tấm trắng, để dành cho con gái tắm dần cả khi ra giêng.Trên ban thờ cũ kỹ  không có một tấm ảnh của cha nhưng nghe mẹ  thì cha đẹp nhất làng, người có đôi tay vạm vỡ như bờ vai vì nghề mộc làm gỗ không nhẹ nhàng như mọi nghề khác. Ngày đó cha bảo mẹ đi mua hoa quả về, để thắp hương ông bà, vốn là cha mua được vài tấm gỗ ván, tự tay cha đóng một cái tủ thờ và làm thêm một ngăn dưới cho mẹ để bát đĩa, vò rượu, vò đậu lạc.

Thứ Bảy, ngày 14 tháng 2 năm 2015

Đón Tết đến gần



Những ngày tất niên vừa làm nốt công việc của năm vừa lo sắm tết gia đình. Cứ bảo bây giờ cái gì cũng sẵn, mua cái xong ngay, đủ ngay thế mà loanh quanh vẫn mỗi ngày mỗi thứ. Vật chất phong phú, đa dạng nhưng những nguyên tắc truyền thống của tết cổ truyền không thay đổi. Những ngày tất niên dồn lại của may mắn - mất mát, của vui – buồn năm cũ , dồn lại trong bữa cơm tất niên. Khép lại của một năm, “ tống cựu nghinh tân”để sớm mai mồng Một tốt lành. Ba ngày tết thong dong áo quần đẹp đẽ sang trọng đi chúc tết họ hàng, đồng nghiệp, họ hàng. Những gì cần cho ba ngày tết đã có những ngày tất niên lo toan đầy. Ôi chao bao cái phải lo cho tết mà cứ náo nức tất cả! 

Thứ Sáu, ngày 13 tháng 2 năm 2015

Thực ảo cực lạc từ đôi mắt bé



Suy tư của nhà văn Ngô Khắc Tài: “Cõi cực lạc có thật không? Nó là thực hay đó chỉ là ảo ảnh? Trong khi nhiều người đang hướng mắt về nó, thì một số lại sinh lòng nghi ngờ. Người đời nghi ngờ vì bệnh chủ quan luôn cho mình là số 1 làm chủ muôn loài, say sưa chinh phục thiên nhiên và chinh phục vũ trụ nữa. Thấy được mới tin, người đời lao vào những cuộc tìm kiếm. Thí dụ tìm ra được cõi cực lạc, thiên đường đi nữa lập tức họ lại tìm cách khai thác đá quý, kim loại ngay (cũng như hiện nay đang tìm cách khai thác mặt trăng, sao hỏa). Đấy là bản chất của người đời nên cõi cực lạc trở nên xa vời – như ánh trăng ở ngay trước mắt đưa tay vói bắt mà không chạm tới…”

Thứ Tư, ngày 11 tháng 2 năm 2015

NAM CAO cũng thích cười

Nghe có vẻ ngây ngô, ở đời ai chả thích cười. Thế nhưng, Nam Cao có thể là một trường hợp ngoại lệ. Được xem như một nhà văn tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán, cuộc đời 36 năm của Nam Cao (1915-1951) chỉ viết về trí thức nghèo và nông dân nghèo, với bao nỗi buồn thương dằng dặc. Đọc tác phẩm Nam Cao, chỉ muốn… khóc cho “một bữa no” của những kiếp người bần cùng và đói rách. Ấy vậy mà, ngay giai đoạn bút lực sung mãn nhất, Nam Cao lại thích… cười. Tháng 9- 1943, Nam Cao in truyện ngắn “Bực mình” trên tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy, sau đó tự mình sửa  lại thành “Cười”, và lấy “Cười” làm tên chung cho tập truyện ngắn xuất bản cùng năm. Rõ ràng, Nam Cao có tâm đắc thực sự với “Cười”.